MỘT SỐ BÀI THƠ THIỀN- TRẦN THÁI TÔNG

MỘT SỐ BÀI THƠ THIỀN- TRẦN THÁI TÔNG

Lưỡi vướng vị ngon, tai vướng tiếng
Mắt theo hình sắc, mũi theo hương
Lênh đênh làm khách phong trần mãi
Ngày hết, quê xa vạn dặm đường.

images (3)images (6) Trần

Thái Tông (chữ Hán: 陳太宗; 10 tháng 7, 1218 – 5 tháng 5, 1277), là vị hoàng đế đầu tiên của nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông ở ngôi hơn 32 năm (1225 – 1258), làm Thái thượng hoàng trong 19 năm.
Hoàng đế khoan nhân đại độ, có lượng đế vương, cho nên có thể sáng nghiệp truyền dòng, lập kỷ dựng cương, chế độ nhà Trần thực to lớn vậy. Buổi đầu do Kiến Vũ đại vương Trần Thủ Độ chấp chính, nhưng sau đó cũng tự khả năng cai trị đất nước. Ông còn cùng Trần Thủ Độ thống lĩnh tam quân, chống lại quan đội Mông Cổ của ông vào năm 1258 cũng khiến cho quốc gia cường thịnh, quốc lực thêm đà dồi dào, quốc gia cơ bản thoát khỏi cảnh bị nội thuộc Mông Cổ như Nhà Tống về sau.
Là một minh quân, Thái Tông cũng là một người sùng Phật giáo, thơ văn, với những tác phẩm về thiền như Thiền tông chỉ nam ca, thơ văn nhưTrần Thái Tông thi tập với lời thơ thanh nhã, dùng từ trau chuốt, nay đã thất lạc.

NHU YẾU TỈNH THỨC

Toàn bộ sáng tác của Thái Tông mang tính chất nhu yếu của một tâm hồn muốn luôn luôn tự đánh thức mình dậy trong cuộc đời, không để rơi và tình trạng sống say chết mộng… Khi ta nhìn vào cuộc đời Thái Tông ta thấy vua không bi quan, yếm thế; trái lại vua rất tich cực trong việc dựng nước trị dân và nắm lấy chủ quyền hành động trong tay khi đã đến tuổi trưởng thành. Khi ta đọc những tác phẩm của vua, ta cũng thấy một niềm thao thức muốn thực hiện một cái gì có giá trị vĩnh cửu; đó là sự ngộ đạo. Vua không phải là một người tâm thường chỉ muốn hưởng thụ những lạc thú cuộc đời, những lạc thú có thể nằm trong tầm tay của một người như vua. Trái lại, vua muốn vươn tới, và tự nhủ đừng tự đánh mất mình trong những thế giới hình sắc, thanh âm, hương vị, và cảm xúc của hưởng thụ. Bốn bài kệ Tứ Sơn là một sự thức tỉnh thực sự về tính cách vô thường của một đời người. Tứ sơn là bốn ngọn núi sinh, lão, bệnh và tử, tức là bốn cửa ải của đời người. Ðánh mất một đời người trong lãng quên và trong thanh sắc để rốt cuộc không còn cơ hộ tìm ra nguồn cội quê hương mình là một điều đáng tiếc.
Vua viết trong bài kệ thứ nhất:

Lưỡi vướng vị ngon, tai vướng tiếng
Mắt theo hình sắc, mũi theo hương
Lênh đênh làm khách phong trần mãi
Ngày hết, quê xa vạn dặm đường.

Một đời người qua suông như thế thật là uổng phí. Hình ảnh mà Thái Tông dùng để diễn tả sự chấm dứt của một cuộc đời lãng phí là một hình ảnh kỳ tuyệt có giá trị đánh thức rất thần diệu. Ðó là hình ảnh trăng khuya lặn trên một dòng sông yên tĩnh sau một trận bão tố khủng khiếp, trong đó tác giả thấy một ngư ông say khước để thuyền tự do vượt sóng qua sông:

Một trận cuồng phong dậy đất bằng
Ngư ông say khướt thả thuyền ngang
Bốn phương mây kéo mầy đen kịt.
Một dải sông reo sóng dậy tràn
Sầm sập tóe tung mưa xối xả
Ỳ ầm chuyển vận sấm oang vang
Phút giây bụi cuốn chân trời tạnh
Canh vắng, dòng sông bóng nguỵêt tàn.

Hiện tại, trong cảnh đêm khuya trăng lặn bên dòng sông, hình ảnh ngư ông say khướt với chiếc thuyền trôi trong giông tố mà ta thấy trước đó mấy phút hình như đã là một ảo ảnh: tất cả sẽ tan biến, chỉ còn lại dòng sông và bóng nguyệt. Về cái chết, Thái Tông viết trong bài Phổ Thuyết Sắc Thân:

Khi xưa tóc mượt má hồng,
Ngày nay tro xanh xương trắng.
Khi mưa lệ tưới mây ảm đạm,
Lúc gió sầu lay nguyệt mơ màng.
Canh tàn thì quỷ khóc thần sầu
Năm muộn thì trâu giày ngựa đạp
Ðom đóm lập lòe trong cỏ biếc,
Côn trùng rền rỉ ngọn đương trơ.
Bia đá một nửa phủ rêu xanh,
Tiều mục đạp ngang thành lối tắt…

Về tính cách bất tịnh và vô thường của thân người, Thái Tông viết trong Phổ Khuyến Phát Bồ Ðề Tâm:

“Công danh cái thế, chẳng qua một giấc mộng dài;
Phú quý kinh người, khó tránh “vô thường” hai chữ.
Tranh nhân chấp ngã, rốt cuộc là không;
Khoe giỏi khoe hay rốt cùng chẳng thực.
Tứ đại rã rời thôi già trẻ;
Núi khe mòn mỏi hết anh hùng.
Tóc xanh chưa thấy mầu đã bạc
Kẻ mừng mới đi mà người điếu đã tới.
Một bao máu mủ, bao năm khổ luyến ân tình;
Bảy thước xương khô, mặc sức tham lam tiền của.
Thở ra không hẹn thở vào; ngày nay không tin ngày kế
Trôi nổi sông yêu giờ nào nghỉ, nấu nung nhà cháy biết bao thôi?”

Tinh thần thao thức cảnh giác này bàng bạc trong suốt nghi thức Lục Thì Sám Hối Khoa Nghi vốn là một phương tiện cảnh tỉnh tâm hồn, không hơn không kém. Sự cảnh tỉnh này được thực hiện trong mọi mặt (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, và ý) và vào mọi lúc trong ngày (tang tảng sáng, buổi trưa, buổi chiều, buổi nhá nhem, buổi tối, buổi quá nửa đêm).

NHU YẾU TINH CHUYÊN

Tự nhắc nhở về tính chất vô thường, bất tịnh và hư giả của cuộc đời không phải là để buồn nản buông xuôi mà là để dốc lòng tinh chuyên thực hiện sự đạt ngộ. Lục Thì Sám Hối Khoa Nghi đã được vua chế ngự để thực hành sám hối một ngày sáu lần… Khoa Nghi chia làm sáu phần, để thực hành sáu lần trong ngày. Mỗi lần lâu vào khoảng 20 phút. Nghi thức gây tác động cảnh giác rất cao và rất tha thiết: sám hối ở đây không phải là xin tội với Phật mà là gạn lọc tỉnh thức tự tâm…Sám pháp ở đây được thực dụng như một phương tiện yểm trợ thiền định, gạn lọc nội tâm, tạo nên trạng thái thao thức của sự cảnh giác.

Mỗi nghi thức bắt đầu bằng một bài kệ cảnh giác, rồi đến lễ dâng hương, một bài kệ dâng hương, một bài kệ dâng hoa, một bài trần bạch có tác dụng cảnh sách, một lời sám hối, một bài kệ khuyến thỉnh, một bài kệ tùy hỷ, một bài kệ hồi hướng, một bài kệ phát nguyện, và cuối cùng là một bài vô thường. Văn cú rất diễm lệ, hình ảnh rất phong phú, tư tưởng rất sâu sắc. Sáu nghi thức là sáu hòn bích ngọc…Sau đây là một vài bài kệ đó:

Bài kệ cảnh sách giờ Dần:

Ánh dương vừa mới hé
Mặt đất tối rạng dần
Ý xôn xao trỗi dậy
Hình tranh nhau phân vân
Ðừng ôm xác chếtt nữa
Ngửng đầu lên thiền chân:
Siêng năng trong sáu niệm
Mới khế ngộ cơ thần.

Lễ chúc hương buổi sớm:

Bóng thỏ về Tây, vầng ô đã rạng:
Nơi chiếu Phạn, họp muôn dòng Thanh Tịnh;
Trên cõi Không, lễ các bậc Thánh Hiền
Muốn gửi tin bằng gỗ chiên đàn;
Phải kính đốt xông loài hương báu.
Hương này, trông từ rừng Giới Luật,
Tưới bằng nước Thiền Na;
Chặt trong vườn Trí Tuệ,
Đẽo bằng đao Giải Thoát.
Hương không dùng rìu búa sức người
Mà hình thể từ nhiên nhiên tự kết.

Ðốt nén bảo hương Tri Kiến;
Kết thành đài mây Quang Minh.
Lúc hương xông khắp chốn thơm tho;
Nơi khói tỏa đầy trời ngào ngạt
Nay nhân buổi sớm, đốt hương cúng dường”.

Bài kệ dâng hương:

Ngào ngạt trầm hương rừng chính định
Chiên đàn vườn tuệ đã vun trồng
Giới đao đẽo gọt nên hình núi
Ðốt tại lò Tâm để hiến dâng

Bài kệ dâng hoa:

Hoa nở sáng ngời trên đất tâm
Hoa tiên rải xuống chẳng thơm bằng
Hái dâng từng đóa lên chư Phật
Gió nghiệp muôn đời thổi chẳng rung.

Ngôi báu, đối với vua, không còn là một đối tượng thèm khát, ước ao mà chỉ là một gánh nặng không thể không gánh. Cho nên Thái Tông đã không ngồi trên ngôi để thưởng thức phú quý quyền hành, đắm chìm trong thanh sắc. Trái lại, vua luôn luôn tự mình thức tỉnh mình, không muốn tự đánh mất trong cuộc sống vô tâm hưởng thụ. Khi quốc gia cần, vua cũng tự thân chiến đấu can đảm vào sinh ra tử, đi trước ba quân. Nhưng khi gà mới gáy sáng, vua đã giật mình trỗi dậy, không muốn chôn lâu trong giấc ngủ nơi giường êm nệm ấm. Vua đã thành đạt không những trong sự nghiệp nuôi dân, bảo vệ hòa bình, mà còn trong sự nghiệp đạo học và tu đạo nữa. Chính tinh thần cảnh giác và cầu tiến đã giúp vua thành đạt sự nghiệp.

THOẠI ÐẦU THIỀN

Thái Tông thao thức thực hiện tuệ giác để tìm ra được một cái gì không sinh không diệt trong dòng đời sinh diệt, bất tịnh, khổ đau, vô thường và vô ngã… Ðó chính là tự tính là chân tâm, là thể kim cương bất hoại. Nhưng “con người thực” đó phải tìm ở đâu? Thiền sư Lâm Tế nó drằng nó “nó ở ngay trên đống thịt đỏ au”, “ra vào trước mắt” mọi người. Ðống thịt đỏ au đó, tức là sắc thân con người mà Thái Tông đã cực tả trong những dòng hiện thực sau đây:

“Bộ xương khô cài hoa điểm ngọc,
Túi da hôi ướp xạ xông lan, cắt lụa;
Là bọc thân máu mủ, xâu tràng hoa đeo túi phân tro…
Trang điểm bề ngoài, bề trong uế trọc {…},
Những mong sống kiếp của thông già,
Nào biết tứ chi như nhà dột.
Hồn phách tạm về lối quỷ,
Thi hài còn để cõi người.
Tóc lông răng móng chửa kịp tiêu,
Đờm dãi bọt hơi đà thấy ứa
Rữa nát thì chảy lỏng máu mủ,
Tanh hôi thì rinh đất rinh trời.
Ðen đúa mắt chẳng dám nhìn,
Xanh lè thật đáng sợ.
Bất luận nghèo giàu, tất cả đều chết.
Ðể ở trong nhà, ruồi bu bọ nguậy,
Vứt ra ngoài đường thì quạ rỉa chó ăn.
Người đời thì bịt mũi mà qua,
Con hiếu phải lấy nong mà đậy…
Thu thập thịt xương, chôn hài cốt.
Quan tài phó sao trời đốm ruộng,
Mồ mả chôn muôn dặm hoang sơ.
Ngày xưa tóc mượt má hồng,
Ngày nay tro xanh xương trắng…”

Sắc thân ấy, thể xác ấy không phải là con người chân thực của ta. Vậy con người chân thực kia, con người không có vị trí kia, nó nằm ở đâu? Làm sao khám phá? Thái Tông đặt ra câu hỏi ấy, đã tham thiền thủ ý ấy. Sau đây là bài kệ ngộ đạo của vua:

Vô vị chân nhân thịt đỏ au
Hồng hồng trắng trắng khéo lừa nhau
Ai hay mây cuốn trời quang tạnh
Hiện rõ bên trời dáng núi sao.


images (5)images (4)

Thiền sư Thích Nhất Hạnh

About thienosho

Nguyễn Tự Tu Email: vangvaxam5@gmail.com
This entry was posted in Thơ. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s