Trích trường ca của Trần Mạnh Hảo: MẸ SINH NHIỀU CON TRAI

TRƯỜNG CA ĐẤT NƯỚC HÌNH TIA CHỚP – CHƯƠNG 10 :

MẸ SINH NHIỀU CON TRAI

Trích trường ca của Trần Mạnh Hảo

Vài lời phi lộ của tác giả:

Sau ngày thống nhất đất nước, cảm thấy cuộc chiến tranh với bọn kẻ thù phương Bắc gần kề, tác giả đã viết trường ca ĐẤT NƯỚC HÌNH TIA CHỚP này…Năm 1978, Đài Tiếng nói Việt Nam đã phát đi đoạn “Mẹ sinh nhiều con trai” bằng giọng đọc của nghệ sĩ Hoàng Long trên nền piano của nghệ sĩ Hoàng Mãnh. Những ngày giặc đánh nước ta dọc tuyến biên giới phía Bắc năm 1979, tác giả cũng có mặt cùng chiến hào với các chiến sĩ đánh giặc Tầu…Trong những ngày máu lửa đó, không chỉ buổi Tiếng thơ mà các buổi phát thanh quân đội, thanh niên, phụ nữ, các tin điểm tình hình chiến sự…Đài Tiếng Nói Việt Nam đều phát đoạn thơ này. Nay, tác giả xin mạn phép gửi tới bạn đọc trích đoạn “Mẹ sinh nhiều con trai” trong trường ca “Đất nước hình tia chớp” để góp phần thổi lên hào khí một thời đánh giặc phương Bắc của cha ông…)

*
Có phải mẹ Âu Cơ đã đi vòng trái đất
Để làm chỗ khai sinh con Lạc cháu Hồng
Mẹ đã tìm ra dải đất hình tia chớp
Chọn vùng tâm bão để sinh con
*
Cái dải đất sông hoá rồng chín khúc
Hai đầu xoè những mũi đất – mũi lao
Núi mang dáng ngựa phi voi phục
Bảo ngủ rừng sâu đợi giặc vào
*
Cái dải đất giống như nàng Tiên múa
Lại có hình ngọn lửa lúc cuồng phong
Lịch sử thành văn trên mình ngựa
Con trẻ mà mang áo giáp đồng
*
Dân tộc lạ lùng lần đầu chiến đấu
Lại cử chú bé vừa sinh cưỡi ngựa sắt xông ra
Lại cử hai người đàn bà cưỡi voi cầm giáo
Tráng sĩ mà sao phải giữ nhà?
*
Không mẹ ơi những người trai khí phách
Giặc giết rồi mẹ chưa kịp sinh đâu
Mẹ chưa kịp dựng đền đài thành quách
Chưa đủ bình yên ăn hết miếng trầu
*
Mẹ ơi suốt chiều dài lịch sử
Mẹ vẫn sinh nhiều những đứa con trai
Mỗi bận chiến trường tin báo tử
Mẹ lại hoài thai bằng nỗi đau dài
*
Con thương mẹ, con thương đất nước
Áo vá vai như ruộng vá chân đồi
Mẹ mất ngủ suốt thời trận mạc
Đất nước là trán mẹ đẫm mồ hôi
*
Con thương mẹ con thương nhánh lúa
Mảnh vô cùng không đỡ nổi chân chim
Rễ lúa nhỏ đau ngầm trong rễ cỏ
Cây lúa vì con mẹ phải đi tìm
*
Con thương mẹ con thương bếp lửa
Tro trấu mà nướng chín củ khoai
Con chim khách sao mày kêu trước cửa
Có ai vào mang tin đứa con trai
*
Con thương mẹ con thương lưỡi cuốc
Suốt cả đời chưa được ngó đầu lên
Những nhát cuốc như mỏ gà bới đất
Cánh đồng sâu chân mẹ quánh phèn
*
Con thương mẹ con thương phên cửa liếp
Hở then cài đêm lọt gió mùa đông
Có chiếc ổ rơm con trâu vừa ăn hết
Những đêm dài mẹ thiếu tấm chăn bông
*
Con thương mẹ con thương chiếc guốc
Truyền bao đời chiếc guốc gộc tre
Tiếng guốc mẹ giống tiếng kêu con cuốc
Suốt năm canh kêu xác cả mùa hè
*
Con thương mẹ, con thương bàn tay mẹ
Cả đời con không đi hết hoa tay
Chắc mẹ rửa tay con bằng mồ hôi từ bé
Mà bàn tay khoẻ tựa lưỡi cày
*
Con thương mẹ thương cả đời đưa tiễn
Hết giặc này lại đến giặc kia
Mẹ cưu mang hết mọi thời kháng chiến
Những đứa con đi dầu biết không về
*
Con thương mẹ con thương đất nước
Từ ngàn xưa cho đến hôm nay
Những tên giặc phương xa vừa phải cút
Khói Cam Tuyền ải Bắc đã vờn mây
*
Chưa bao giờ mẹ sinh nhiều con trai đến thế
Chúng con đi mạnh khoẻ vô cùng
Những binh đoàn ào lên bão bể
Toả nhánh về biên giới vòng cung
*
Tất cả núi đều đổ ra biên giới
Tất cả rừng đều cuộn tới chở che
Giặc phương Bắc mà liều mình lao tới
Những đỉnh núi kia sẽ đổ xuống đè
*
Cau nhà ta không đủ mo để gói
Những nắm cơm của mẹ chật ba lô
Những chân trời cháy lên tiếng gọi
Biển cả reo một tiếng rung bờ
*
Con thương mẹ chưa nghỉ gồng nghỉ gánh
Dãy Trường Sơn vẫn trĩu đôi vai
Chúng con chẳng sợ gì bao trận đánh
Rặng tre ngà đã phủ suốt vành đai
*
Con thương mẹ còng lưng cấy lúa
Cây lúa vừa cắm xuống như chông
Những ngọn núi sẵn sàng phun lửa
Những dòng sông trữ thác ở trong lòng
*
Con thương mẹ con thương biển cả
Giấu tâm hồn nhân hậu dưới phong ba
Nếu giặc đến biển sẽ thành chảo lửa
Sao biển vẫn ngoan như chiếc ao nhà
*
Thế hệ chúng con chưa kịp tròn mười tám
Như đất nước nghìn năm chưa một kỷ nguyên già
Những quả đồi nằm theo dáng đấm
Sông Thương buồn có giặc cũng lao ra
*
Thế hệ chúng con đi như gió thổi
Quân phục xanh đồng sắc với chân trời
Chưa kịp yêu một người con gái
Lúc ngã vào lòng đất vẫn con trai
*
Thế hệ chúng con ồn ào, dày dạn
Sống thì đi mà chết thì nằm
Giọt lệ phần mình, nụ cười dành bạn
Đất nước là một cuộc hành quân
*
Mẹ ơi, có mẹ rồi chúng con vững bước
Chúng con lam làm, chúng con sống chúng con yêu
Chọn tâm bão mẹ sinh thành dân tộc
Sóng có nghiêng đê con vẫn bắc cầu Kiều
*
Mẹ ơi, bất kỳ từ điểm nào trên trái đất
Ai cũng thấy mẹ sinh nhiều con trai
Khi đất nước Việt Nam mang dáng hình tia chớp
Rạch chân trời một lối đến tương lai.
*
Trần Mạnh Hảo
(Trường ca này khởi viết từ năm 1976-1977,
sửa chữa và in trên Văn Nghệ Quân Đội năm 1978,
sau mới xuất bản thành sách)

Advertisements
Posted in Thơ | Leave a comment

39. SÁCH KHÔNG

  1. SÁCH KHÔNG

39.1. Giấc ngủ tới khi bạn không có đó. Chứng ngộ cũng đi theo cùng qui tắc- nó tới khi bạn không có đó. Nhưng khi bạn đang làm, thì làm sao bạn sẽ vắng mặt đồng thời được? Nếu bạn đang làm điều gì đó thì bạn sẽ có đó. Hành động nuôi dưỡng cho bản ngã. Khi bạn không làm gì cả thì bản ngã không thể nào được nuôi dưỡng. Nó đơn giản biến mất, nó chết, nó không có đó. Và khi bản ngã không có đó thì ánh sáng hạ xuống…  Bạn hãy tận hưởng nó, nhưng đừng ép buộc nó. Và hãy nhớ, bất kỳ khi nào bạn ép buộc điều gì thì bạn không thể tận hưởng nó được.

39.2. Mọi người đều cố gắng chi phối. Đó là bản chất của bản ngã: nỗ lực chi phối người khác. Và nếu mọi người đều cố gắng chi phối thì bạn cũng cố gắng chi phối, thì sẽ có tranh giành. Sự tranh giành không phải bởi vì người khác đang cố chi phối, mà bởi vì bạn không cố gắng hiểu cách thức bản ngã vận hành. Bạn hãy vứt điều đó đi. Người khác không thể thay đổi được, còn bạn sẽ phí cuộc đời mình để cố gắng thay đổi người khác. Đó là vấn đề của họ. Họ sẽ đau khổ nếu họ không hiểu biết, tại sao bạn lại phải đau khổ? Nếu bạn không cố gắng chi phối thì người khác bắt đầu cảm thấy ngu xuẩn- bởi vì người khác không có đó để đánh nhau. Khi bạn đánh nhau thì bạn làm mạnh thêm bản ngã của người khác, và điều này là cái vòng lẩn quẩn. Nếu bạn không đánh nhau, thì bạn trao một cơ hội cho người khác cũng thấy, cũng hiểu biết. Bạn sẽ cười, bạn sẽ không trong khổ sở. Toàn bộ sự việc xung quanh lố bịch thế, nhưng bạn lại không thể thấy được nó bởi vì bạn là một phần của nó. Cái lố bịch không thể nào được biết tới trừ phi bạn có một khoảng cách, một sự tách biệt. Và bạn chẳng thu được gì, bạn chẳng đạt tới đâu, bạn đơn giản bị rối loạn. Bạn lại bị mất. Bạn mất những khoảnh khắc quí giá có thể trở thành phúc lạc, thời gian quí giá, năng lượng, cuộc sống, trong đó bạn có thể đã nở hoa.

39.3. Câu nói của Nietzsche là: “Con người chỉ là cây cầu giữa hai điều vĩnh hằng, điều vĩnh hằng của tự nhiên và điều vĩnh hằng của Thượng đế”. Bạn hãy trở nên lắng đọng, và cả hai cách sẽ có tác dụng. Trang Tử thiên về việc được lắng đọng lại vào tự nhiên. Nếu bạn lắng đọng vào tự nhiên thì bạn trở thành giống thần, bạn trở thành thần. Phật thiên về đi lên trước  và trở thành Thượng đế, thế thì bạn sẽ được lắng đọng. Hoặc là đi ngược lại, hoặc là đi tới tận cùng nhưng đừng dừng ở trên cầu. Trên cầu bạn sẽ bị phân chia . Bạn không thể thoải mái ở đó được. Bạn không thể làm nhà tại đó được. Nó không phải là mục đích, nó chỉ là cái gì đó để đi qua. Nietzsche nói: con người là cái gì đó cần được siêu việt lên. Con người không phải là sự hiện hữu. Con người chỉ là sự chuyển tiếp, một giai đoạn chuyển đổi, việc chuyển từ sự hoàn hảo này sang sự hoàn hảo khác.

39.4. Khó mà không lựa chọn, nhưng hãy cố.  Khi bạn cảm thấy ghét, hãy cố gắng chuyển vào giữa. Khi bạn cảm thấy yêu, hãy chuyển vào giữa. Dù bạn cảm thấy bất kỳ cái gì, hãy cố gắng chuyển vào giữa. Và bạn sẽ ngạc nhiên là có một điểm ở giữa bất kỳ hai cực đoan nào, nơi cả hai đều dừng tồn tại- Khi bạn không cảm thấy ghét mà cũng không thấy yêu, dửng dưng… Bạn không bị đồng nhất. Sự siêu việt xảy ra, và sự siêu việt là sự nở hoa.

39.5. Thực tại bao giờ cũng có đó, chờ đợi chỉ ngay gần trái tim bạn, gần mắt bạn, gần tay bạn. Bạn có thể chạm vào nó, bạn có thể cảm thấy nó, bạn có thể sống nó- nhưng bạn không thể nghĩ về nó. Thấy là có thể, cảm là có thể, chạm là có thể, nhưng nghĩ là không thể. Nhận biết cộng với hành động, và bạn sẽ đạt tới thực tại ngay lập tức. Và không chỉ bạn- bạn sẽ tạo ra một tình huống trong đó người khác cũng có thể đạt tới thực sự. Bạn trở thành một bầu không khí bao quanh và mọi sự sẽ bắt đầu xảy ra. Đây là toàn bộ nghệ thuật thiền: cách đi sâu vào trong hành động, cách từ bỏ suy nghĩ, và cách chuyển năng lượng mà trước đây đã đi vào trong suy nghĩ, đến nay đi vào trong nhận biết. Và đây là vấn đề. Người ta phải từ bỏ suy nghĩ và không rơi vào cơn mê, bởi vì cơn mê sẽ không đưa bạn tới thực tại. Nếu bạn rơi vào vô thức thì bạn không đi vào trong thực tại, bạn đơn giản ngủ say: ý thức đã hòa vào trong vô ý thức. Nếu ý thức rơi vào trong vô ý thức thì bạn rơi vào trong cơn mê, còn nếu vô thức rơi vào trong ý thức và trở thành bản thân ý thức, thì bạn trở nên chứng ngộ, bạn trở thành một vị phật.

39.6. Bất kỳ khi nào tâm thức có đó, và hành động, thì tâm thức và hành động trở thành toàn bộ.

Nếu bạn không có tình yêu, thế thì bạn sẽ không thấy có tình yêu trên thế giới. Nếu bạn có trái tim đập rộn rang với tình yêu, thì bạn sẽ cảm thấy nhịp đập ở mọi nơi, khắp xung quanh- trong cơn gió thoảng qua cây cối, trong dòng sông tuôn chảy ra đại dương. Bạn sẽ cảm thấy tình yêu ở mọi nơi. Bạn có thể cảm thấy chỉ cái mà bạn có, không cái gì khác có thể cảm thấy cả.

39.7. Khi tâm thức bị phân chia, không tựa tấm gương, thì nó trở thành tâm trí. Tâm trí là tấm gương bị vỡ. Tại gốc rễ, tâm trí là tâm thức. Nếu bạn dừng việc tạo ra phân biệt, phân chia nhị nguyên, chọn cái này chống cái kia, thích cái này không thích cái kia- nếu bạn vứt bỏ những phân chia này, thì tâm thức trở thành tấm gương, tâm thức thuần khiết. Nếu bạn tỉnh táo, thì trong sự sáng lóe bất thần tâm trí sụp đổ. Bỗng nhiên bạn là một với tâm thức tựa tấm gương: bạn đã rơi vào cơ sở của mình, vào gốc rễ của mình. Và khi bạn đã rơi sâu vào bên trong gốc rễ, thì toàn bộ sự tồn tại rơi vào trong gốc rễ. Sự tồn tại xuất hiện cho bạn như bạn hiện thế.

39.8. Cuộc sống và cái chết dường như là đối lập bởi vì bạn phân chia. Nếu không thì cuộc sống trở thành cái chết, cái chết trở thành cuộc sống; bạn được sinh ra và chính cái ngày đó bạn đã bắt đầu chết, và khoảnh khắc bạn chết thì cuộc sống mới đã đi vào hiện hữu. Nó là một vòng tròn, vòng tròn âm và dương của người trung quốc.

39.9. Bạn có thể chứng minh mọi thứ đều là mơ, nhưng bạn không thể chứng minh rằng, người mơ là giấc mơ- bởi vì người mơ phải là thực, nếu không thì giấc mơ không thể tồn tại được. Chỉ một điều là chắc chắn: đó là bạn. Chỉ một điều là tuyệt đối chắc chắn và đó là thực tại bên trong của bạn. Việc chuyển đổi có nghĩa là chuyển từ một thế giới không chắc chắn, thế giới của diện mạo sang thế giới của thực tại này. Và khi bạn biết rằng cái chắc chắn bên trong và bạn là nền tảng, một khi bạn biết rằng bạn hiện hữu, thế thì từ cái chắc chắn đó tầm nhìn sẽ thay đổi, phẩm chất thay đổi. Thế thì bạn nhìn vào thế giới bên ngoài này và thế giới khác được lộ ra- thế giới đó là Thượng đế. Thế thì không có các diện mạo nữa mà chỉ có thực tại, cái mà thực sự là thực. Hình dạng thay đổi, nhưng cái đi qua hình dạng lại không đổi. Một khi bạn được định tâm trong cái vĩnh hằng này, thế thì bạn có thể nhìn, bạn trở thành tấm gương. Trong tấm gương đó thực tại được soi gương. Nhưng trước hết bạn phải trở thành tấm gương. Bạn đang dậy sóng, bạn bị bóp méo. Tâm trí bóp méo thực tại, còn tâm thức để lộ nó ra. Nếu bạn cứ theo đuổi các diện mạo (tiền bạc, danh vọng, quyền lực, tình dục,…) thì bạn sẽ bỏ lỡ cội nguồn, bạn bỏ lỡ bản thân mình, và toàn bộ thời gian này bạn sống trong giấc mơ. Bạn đã bỏ lỡ cái một, cái mang mọi ý nghĩa.

39.10. Bạn hãy luôn nhớ rằng cái chết đang tới, và cái chết là tiêu chuẩn: bất kỳ cái gì mà cái chết bác bỏ thì đều bị bác bỏ; bất kỳ cái gì cái chết chấp nhận thì đều được chấp nhận. Bất kỳ cái gì có thể vượt ra ngoài cái chết, mạnh hơn cái chết, thì đều là thực tại. Cái thực không thể chết được; cái không thực chết cả nghìn lẻ một cái chết. Khi bạn là thực, thế giới này là thực; khi bạn đang sống trong ham muốn không thực, thì bạn tạo ra thế giới diện mạo. Bất kỳ cái gì bạn đang là thì cũng là thế giới của bạn. Và có nhiều thế giới như ngần ấy người. Nếu bạn quá nghiện của cải thì toàn bộ con người bạn hội tụ vào của cải, thế thì bạn chỉ thấy tiền bạc, không cái gì khác. Ham muốn của bạn là tầm nhìn của bạn, và ánh sáng của bạn bao giờ cũng hội tụ vào ham muốn của bạn. Khi ánh sáng này biến đổi, được chuyển đổi, đi vào bên trong thì có sự tỏa sáng. Thế thì bạn được tràn ngập với ánh sáng. Vào khoảnh khắc chứng ngộ bên trong thì có việc vượt ra ngoài diện mạo và không có gì là trống rỗng- mọi thứ đều tràn đầy với điều thiêng liêng. Thế thì Thượng đế ở mọi nơi. Cái thực ở mọi nơi.

39.11. Chân lý không thể được tìm kiếm. Ngược lại khi tất cả mọi việc tìm kiếm đều dừng lại thì chân lý gõ cửa nhà bạn; khi bạn chấm dứt tất cả các ham muốn, khi bạn không có động cơ nào để đi đâu cả, thì bỗng nhiên bạn thấy mình được sáng tỏ, bỗng nhiên bạn thấy bạn chính là ngôi đền mà mình tìm kiếm, bạn là ngọn nguồn của tất cả, bạn là chính thực tại.

39.12. Ai đó xúc phạm bạn. Nếu bạn thực sự tồn tại không bị rối loạn thì bạn không thể bị xúc phạm; người ấy có thể cố gắng, nhưng bạn không thể bị xúc phạm, bạn không nhận sự xúc phạm ấy. Và chừng nào mà bạn còn không nhận nó thì người ấy thất bại. Thậm chí bạn còn cảm thất từ bi, bạn cảm thấy thương hại, bạn có thể giúp đỡ để người ấy thoát ra khỏi điều đó, bởi vì ai đó giận dữ tức là đầu độc chính mình.

39.13. Với ốm yếu thể chất thì chúng ta có từ bi, với ốm yếu tinh thần thì chúng ta lại không có từ bi- bởi vì nếu ai đó ốm thể chất thì chúng ta không coi đó như việc xúc phạm mình.Khi ai đó ốm yếu về tinh thần, thì chúng ta coi người đó ốm yếu về tinh thần bởi vì chúng ta cũng ốm yếu, do đó mới có thái độ này. Nếu bạn không bị rối loạn thì mọi thứ thay đổi.

39.14. Phân biệt- cái này tốt, cái kia xấu, cái này tôi thích, cái kia tôi không thích- sự phân biệt rất cơ bản này là tâm trí. Nếu phân biệt này biến mất thì tâm trí rơi vào trong vực thẳm. Bạn sẽ đạt tới cội nguồn của mình, cội nguồn ân huệ, cực lạc,…

39.15. Nếu bạn có thể sống một cách hạnh phúc trong lều, thì bạn có thể sống hạnh phúc trong cung điện, bởi vì bạn tạo ra thế giới quanh mình. Nếu không, khi cái lều dằn vặt bạn thì cung điện cũng sẽ dằn vặt bạn- thậm chí còn nhiều hơn. Nó sẽ là địa ngục, vẫn như cũ- nhưng được trang trí nhiều hơn. Nếu bạn bị ném vào thiên đường, thì bạn sẽ cố gắng để tìm lối ra, hay bạn sẽ tạo ra địa ngục của mình ở đó.

39.15. Thay đổi tâm trí, thế thì thế giới sẽ thay đổi. Thế thì dù bạn ở đâu, một thế giới khác cũng sẽ lộ ra. Bạn đi sâu hơn, bạn sẽ muốn hiệu quả thật sự mà không có thế giới bao quanh bạn. Bởi vì, dù thế giới có đẹp đến đâu rồi cũng sẽ trở thành nhàm chán, bởi tâm trí cần thay đổi. Nó không thể sống trong vĩnh hằng. Nó không thể sống ở đây và bây giờ.

39.16. Người ta phải tỉnh táo.

(CimagesimagesimagesÒN NỮA)

Posted in Thiền | Leave a comment

MẶT TRỜI TÂM THỨC

Posted in Video OSHO | Leave a comment

THƠ THIỀN LÝ TRẦN 

THƠ THIỀN LÝ TRẦN
Trích Cổ thi Tác dịch
_______________________
Ngô Chân Lưu
Tác giả: tức Khuông Việt (933-1011), người Cát Lợi, huyện Thường Lạc, nay là Tĩnh Gia, Thanh Hóa, lúc nhỏ học đạo, lớn lên đi tu. Do nổi tiếng tinh thông Thiền học nên được Đinh Tiên Hoàng ban cho hiệu là Khuông Việt đại sư.

TRONG GO CO LUA
Trong gỗ luôn có lửa,
Vẫn thế bao đời nay.
Nếu gỗ không có lửa,
Sao cháy được thế này?

Lý Ngọc Kiều
Tác giả: sinh 1041, mất 1113, người hương Phù Đổng, huyện Tiên Du, là con gái đầu của Phụng Càn vương, được vua Lý Thánh Tông nuôi dạy trong cung. Cuối đời di tu, pháp danh là Ni sư Diệu nhân. Bà và ỷ Lan phu nhân là hai nữ sĩ nổi tiếng đời Lý. Ngoài bài thơ này còn lưu được một bài kệ nói về bốn nỗi khổ của kiếp người.

Sinh lão bệnh tử(1)
Sinh lão và bệnh tử,
Vốn là điều tự nhiên.
Càng muốn thoát cho khỏi,
Càng bị trói chặt thêm.
Ngu muội mới cầu Phật,
Dại dột muốn mong Thiền.
Chẳng cần Thiền, cần Phật,
Hãy tĩnh tâm ngồi yên.

Vạn Trì Bát
Tác giả: Sinh 1049, mất 1117, không rõ tên thật là gì, người ở đất Lụy Châu nay thuộc vùng Hà Bắc. Đi tu từ lúc 20 tuổi. Cuối đời ông trụ trì ở chùa Tổ Phong, núi Thạch Thất và mở trường dạy học ở đấy.

Có sinh ắt có tử
Có sinh, ắt có tử.
Có tử là có sinh.
Sống chết trời định sẵn,
Sướng khổ đều do mình.
Sự đời luôn thay đổi,
Buồn vui – bóng với hình.
Ai không lo sống chết,
Mới là người thông minh.

Dương Không Lộ
Tác giả: Không rõ năm sinh, chỉ biết mất 1119, người hương Hải Thanh, nay thuộc tỉnh Hà Nam, tổ tiên vốn làm nghề chài lưới, sau ông bỏ đi tu. Ông chuyên nghiên cứu về Thiền Tông và Mật Tông, cùng Thiền sư Giác Hải thường du ngoạn những nơi danh lam thắng cảnh.

Cái nhàn của dân chài
Sông xanh muôn dặm, trời muôn dặm.
Một xóm dâu gai, một xóm mây.
Ông chài ngủ quên, trưa tỉnh dậy,
Tuyết phủ trên ghe một lớp dày.

Kiều Trí Huyền
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, chỉ biết sống cùng thời và là bạn của Từ Đạo Hạnh. Bản thân ông cũng là một thiền sư.

Trả lời Từ Đạo Hạnh khi được hỏi về chân tâm
Cái thiền, cái đẹp, cả lời ca,
Đều từ tay mắt Phật mà ra.
Cả vũ trụ này đâu cũng Phật.
Sao lầm, cứ tưởng Phật đâu xa?

Từ Lộ
Tác giả: tức Từ Đạo Hạnh, không rõ nơi, năm sinh, mất 1117. Ông là nhà sư thế hệ thứ 12 dòng thiền Nam Phương, tu ở chùa Thiên Phúc trên núi Phật Tích, châu Quốc Oai, nay là huyện Quốc Oai, Hà Tây.

Có và không
Có, từ hạt bụi nhỏ.
Không, cái gì cũng không.
Như hình trăng dưới nước,
Có, mà thực tình không.
Lời nhắn nhủ học trò trước khi chết
Thu về không báo nhạn cùng bay.
Cớ sao quyến luyến cõi đời này?
Môn đệ đừng buồn ta sắp mất:
Thầy xưa chết để hóa thầy nay.

Kiều Phù
Tác giả: tức Bảo Giám, không rõ năm sinh, mất 1173, người huyện Trung Thụy, đời Lý Anh Tông, làm quan đến chức Hậu xá nhân, năm 30 tuổi từ quan, đến tu ở chùa Bảo Phúc, nay thuộc tỉnh Hòa Bình, sau ông trụ trì chùa này.

Cảm hoài
Trí tuệ như trăng sáng giữa trời,
Bao trùm thiên hạ, chiếu muôn nơi.
Muốn tìm được nó, đừng phân biệt
Cả rừng phong hoặc lá phong rơi.

Khuyết Danh

Ngẫm sự đời
Gió lùa, trăng lạnh, nước mênh mông,
Áo ấm đêm khuya vẫn buốt lòng.
Thời gian thấm thoắt trôi, già lão,
Mà việc không thành, ai biết không?

Trần Cảnh
Tác giả: tức Trần Thái Tông (1218-1277), con thứ của Trần Thừa; là ông vua đầu tiên của nhà Trần, có công trong việc ổn định và đưa xã hội Việt Nam bước dần vào giai đoạn thịnh vượng; trực tiếp lãnh đạo và chiến thắng quân Nguyên lần thứ nhất. Ông đặt nền móng cho chế độ thi cử và mở mang việc học ở Việt Nam.

Gửi nhà sư Đức Sơn ở am Thanh Phong
Gió thổi trăng khuya rụng trước thềm.
Cảnh vật, lòng người đều tĩnh êm.
Bao nhiêu cái thú không ai biết,
Cứ để sư nằm, vui suốt đêm.

Văn răn ham sắc
Da phấn, tóc thơm với má đào,
Khi nhìn, ai cũng thấy nao nao.
Thực chất chỉ toàn xương với thịt,
Giết người đau đớn chẳng cần dao.

Kiếp người(1)
Kiếp người – bọt sóng biển mênh mông.
Sống chết tại thiên, chớ bận lòng.
Nắng đẹp bình minh, chiều xạm tối.
Mùa xuân lá mọc, héo mùa đông.
Lã Vọng, Phan Lang đều chết cả.(2)
Thiên nhiên vận vật cứ xoay vòng.
Kiếp đời đã vậy, đừng than vãn.
Về tây nắng ngả, nước về đông.

Về bệnh tật(1)
Âm dương, tội đức cứ xoay vần.
Bể đời vì thế lắm gian truân.
Nhưng đã có thân thì có bệnh.
Bằng không có bệnh, ắt không thân.
Thuốc quý trường sinh không thể có.
Chẳng gì níu giữ tuổi thanh xuân.
Cái chính – tu thân, xa quỷ dữ,
Hàng ngày tâm niệm hướng thiên chân.(2)

Đêm mưa bão(3)
Bỗng trời nổi gió, bụi tung bay.
Ông chài say tít, mặc thuyền xoay.
Một dãy núi đồi vang tiếng sấm.
Chân trời bốn phía mịt mù mây.
Sầm sập mưa rơi như thác đổ.
Thi nhau ánh chớp xé đêm dày.
Bất chợt bão tan, trời lại tạnh.
Trăng sáng ngoài thềm – canh mấy đây?

Bài kệ khuyên mọi người lúc hoàng hôn
Hoàng hôn, mặt trời lặn
Sau dãy núi xa xa.
Thời gian trôi, khó giữ.
Người trẻ rồi cũng già.
Ai cưỡng được cái chết
Không cho đến tìm ta?
Vậy hãy lo tâm niệm,
Để xa lánh ma tà.

Kệ về lẽ vô thường(1)

(Bài một)
Sáng dậy, mặt trời mọc phía đông.
Lát sau đã thấy đứng trên không.
Mà người như thể đang mê ngủ,
Chẳng hay vạn vật vẫn xoay vòng.
Hoa nở rồi tàn, hoa lại nở.
Sự đời suy thịnh, có mà không.
Sao chẳng tĩnh tâm ngồi suy nghĩ,
Tự mình gây khổ, cứ long đong?
Kệ về lẽ vô thường

(Bài hai)
Nắng tắt, hết ngày lại đến đêm.
Đã tối, đường đời càng tối thêm.
Nhà mình đèn có mà không thắp,
Lại nhờ ánh sáng của nhà bên.
Sau núi mặt trời chưa kịp lặn.
Bên hồ trăng sáng đã nhô lên.
Sống chết luân hoàn, đời đã vậy,
Sao không niệm Phật, sớm quy thiền?

Kệ về lẽ vô thường
(Bài ba)
Trống canh giục khách tỉnh giấc nồng.
Chuông Phật nhắc người luyện đức công.
Mà người vẫn ngủ, quay về Bắc,
Mặc kệ mặt trời mọc phía Đông.
Dằng dặc đêm dài rồi cũng hết.
Đêm đời tăm tối, dốt thì không.
Nếu không nhanh chóng lo hành đạo,
Ngày nào mới gặp được Hoàng Công?(1)

Trần Tung
Tác giả: tức Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291), con trai Trần Liễu, anh ruột Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, trực tiếp cầm quân chống quân Nguyên. Ông tu Phật mà không hề xuất gia, từng theo học thiền sư Tiêu Dao. Ông rất ham mê văn thơ, các sáng tác được tập hợp trong bộ “Thượng Sĩ Ngữ lục”.

Thăm đại sư Tăng Điền
Cũng thế rừng xanh với gác lầu.
Để sống, chỗ nào chẳng giống nhau.
Người đời thấy núi cao và đẹp,
Mấy người nghe tiếng vượn khe sâu?

Gợi bảo mọi người
Thế gian ưa dối, không ưa thật.
Nhưng thật dối gì, đều bụi đất.
Muốn sang tới được bờ bên kia,(1)
Hãy hỏi trẻ con chơi trước mặt.

Chợt hứng làm thơ
Thanh thản ngồi yên chính giữa nhà,
Nhìn Côn Luân khói gợn xa xa.
Lúc mệt, thảnh thơi, tâm tự tắt,
Không thiền, không Phật, chỉ mình ta.

Cái tâm
Cái tâm không tướng, chẳng hình hài.
Thấy nó mắt thường dễ mấy ai?
Muốn biết cái tâm cho thật rõ,
Từ chiều cứ ngủ đến canh hai.

Gợi bảo những người tu Tây Phương(1)
Phật ở trong lòng mỗi chúng ta.
Bốn phương thân pháp(2) chỉ bao la.
Trong veo bể Phật, đêm thu lắng.
Trời đêm đơn độc mảnh trăng tà.

Vui thú giang hồ
Con thuyền nho nhỏ lướt trên sông.
Ghếch lái, buông chèo chỗ uốn cong.
Chợt nghe tiếng nhạn kêu đâu đó.
Gió thu như đã thổi qua lòng.

Thời tiết yên định
Tử sinh đừng hỏi, kẻo phí lời.
Thời tiết “nhân duyên” vốn tại trời.
Mây núi nào không bay cạnh núi,
Sóng nào chẳng ở chốn xa khơi.
Hoa nở tháng Ba, luôn vẫn vậy.
Gà gáy canh năm đánh thức người.
Cái đạo, cái tâm ai thấu hiểu,
Mới biết phù du sống ở đời.

Họa thơ huyện lệnh
Chẳng kém Tứ Minh(1) về cái ngông,
Không cầu trời phật thưởng, khen công.
Giác ngộ nhiều khi chưa mà đã,
Sự đời lắm lúc có mà không.
Tiểu nhân tìm thuốc mong bất tử,
Người giỏi ung dung chẳng bận lòng.
Đi câu mà chẳng mang câu, lưới,
Thậm chí chẳng thèm ngó xuống sông.

Cái thú giang hồ
Vui thú giang hồ, cảnh núi sông
Từ lâu ấp ủ mãi trong lòng.
Bạc vàng, danh vọng không vương vấn.
Tháng ngày nhàn nhã, sống thong dong.
Buổi chiều thổi sáo, chờ trăng mọc.
Sáng cắm thuyền câu chính giữa dòng.
Tạ Tam(1) thật tiếc không còn nữa,
Còn lại chiếc thuyền ghếch bãi nông.

Trình thiền sư Tiêu Dao ở Phúc Đường(2)
Lâu nay xa phong thái, kiều ngụ ở thôn hoang. Sâm thương thân cách phương trời, loạn phương ý hằng chung bóng. Khúc hát “vô sinh”, thảnh thơi cất tiếng. Công ơn pháp nhũ, gọi chút đền bù.tạm viết đôi lời, dưới tòa trình tiến.
Ở nơi thôn dã sống qua ngày,
Nhưng ơn Tứ Trọng(2) vẫn sâu dày.
Nhờ được gặp luôn, đầu đỡ tối/
Lòng dù đã nguội, vẫn lòng ngay.
Mùa xuân ngồi ngắm hoa đào nở.
Thu về, nhàn nhã ngắm mây bay.
Hôm nọ đến thăm, ngài chỉ giáo,
Bây giờ xin gảy đàn không dây.(3)

Khuyên đời vào đạo
Xuân hết đến hè, năm tháng qua.
Rất nhanh, người trẻ hoá thành già.
Sầu muộn luôn theo cùng tuổi tác.
Sang giàu rút cục chỉ phù hoa.
Bể “khổ” là đời, thường vẫn vậy,
Sông “yêu” mang lại lắm phiền hà.(1)
Cứ mãi buông mình theo dục vọng,
Có ngày tai hoạ đến tìm ta.

Chợt tỉnh
Giữa “không” và “có” chẳng bao xa.
Xưa nay sống chết – một thôi mà.
Hoa nở năm nay – hoa năm ngoái.
Trăng sáng bây giờ – trăng tối qua.
Thấm thoắt “ba sinh”(1) như gió thoảng.
Tuần hoàn “chín cõi”(2) kiếp phù hoa.
Vậy sống thế nào là tốt nhất?
Ma ha bát nhã, tát – bà – ha?(3)

Lui về ở ẩn
Ở đời, phúc họa đến song song.
Nơi này thanh tịch sống thong dong.
Sáng ngắm chim bay trên sóng biển.
Chiều xem mây khói phủ kín đồng.
Thẹn đời điên loạn, thân nhơ bẩn.
Mừng nước chưa suy, sạch tấm lòng.
Đêm đêm mơ thấy quan âm Phật.
Sóng thu vừa cạn lại vừa trong.

Posted in Thơ | Leave a comment

Thơ Trần Mạnh Hảo: HỠI MƯA PHÙN QUÊ MẸ BẠC ĐẦU CON

HỠI MƯA PHÙN QUÊ MẸ BẠC ĐẦU CON

Hỡi mưa phùn quê mẹ bạc đầu con
Nhớ mùi ổ rơm thơm lừng gió bấc
Mẹ đang nằm ngoài trời xin cỏ đắp
Đêm cơ hàn ngọn nến thắp mùa đông

Xưa mẹ theo gió bấc lấy chồng
Mẹ khoác cả mưa phùn làm áo cưới
Khóc lạy ông bà về làm dâu xóm dưới
Chỉ cây bàng thương mẹ cháy bừng mưa

Con chào đời đêm súng thét tản cư
Tã lót mẹ cuốn con bằng khói bếp
Gió bấc khóc chiến tranh gào cái chết
Đêm ấy mưa phùn nuốt hết quê hương

Con đã ăn bầu vú mẹ canh trường
Ngày đói khát mẹ ru bằng nước mắt
Mẹ gánh con chạy vòng quanh đất nước
Đất nước là chăn đụp mẹ trùm con

Ào ạt mưa phùn trứng rận ngập đầu non
Con đã biết bắt rận thuê kiếm gạo
Mẹ lặng khóc khi cầm lên bát cháo
Gió bấc nào vô đạo bắt tù cha

Mưa phùn ơi mưa phùn thổi bay nhà
Mưa phùn đẩy mẹ xuống sông mò rét
Gió bấc hú con nằm mơ mẹ chết
Chạy vào đêm gào thảm thiết: Mẹ ơi!

Mẹ ngoài sông mò cá cóng chân trời
Trời biết ý phủ trùm đêm chăn đụp
Mẹ dạy con đừng căm thù tủi nhục
Lửa còn trong củi mục, mẹ còn đâu?

Giáo mác lưỡi lê trận gió bấc bay đầu
Quê đất Bắc mẹ con mình chết rét
Đêm nay con lại được sinh ra, hồn khóc thét:
– Hỡi mưa phùn quê mẹ bạc đầu con!

Sài Gòn tối 29-12-2014

Posted in Thơ | Leave a comment

SỰ DUNG THÔNG CỦA HAI LOẠI SỰ THẬT: BẢN MÔN VÀ TÍCH MÔN

SỰ DUNG THÔNG CỦA HAI LOẠI SỰ THẬT: BẢN MÔN VÀ TÍCH MÔN
(SỰ THẬT TUYỆT ĐỐI VÀ SỰ THẬT ƯỚC LỆ)

Posted in THÍCH NHẤT HẠNH | Leave a comment

THƠ TẢN ĐÀ- NGUYỄN KHẮC HIẾU

GIAI THOẠI “RAU SẮNG CHÙA HƯƠNG”

Muốn ăn rau sắng chùa Hương…

Rau sắng là một trong những đặc sản, một loại lá cây rừng nấu canh ngon ngọt như rau ngót của vùng Hương Sơn – nơi nổi tiếng với lễ hội chùa Hương thường được tổ chức vào mùa xuân mỗi năm.

Thi sĩ Tản Đà có lẽ mùa xuân nào cũng đi hội chùa Hương, và đâm “ghiền” cái món canh rau sắng. Nhưng rủi thay, đến mùa xuân năm 1923 thì chàng… hết tiền! Ngồi bó gối nhìn người ta nô nức đi trẩy hội mà lòng cuộn lên những xuyến xao bồi hồi… Thế là trút tâm sự qua đầu ngọn bút:

“Muốn ăn rau sắng chùa Hương
Tiền đò ngại tốn, con đường ngại xa
Mình đi, ta ở lại nhà
Cái dưa thì khú, cái cà thì thâm”.

Tản Đà đăng 4 câu thơ trên lên tờ Hữu Thanh do chính ông làm chủ bút.

Ít ngày sau, Tản Đà nhận được một gói bưu phẩm bên trong là một mớ rau sắng và một mảnh giấy ghi 4 câu thơ:

Kính dâng rau sắng chùa Hương
Tiền đò đỡ tốn, con đường đỡ xa
Không đi, xin gửi lại nhà
Thay cho dưa khú cùng là cà thâm”.

 Phía dưới ghi “Đỗ tang nữ bái tặng”.(“Đỗ tang nữ” có nghĩa là người con gái hái dâu họ Đỗ).

Cảm động và ngập tràn hạnh phúc, ngay sau đó Tản Đà viết và đăng trong tờ Truyện Thế Gian  bài thơ sau:

“Mấy lời cảm tạ tri âm
Đồng bang là nghĩa, đồng tâm là tình
Đường xa rau vẫn còn xanh
Tấm lòng thơm thảo, bát canh ngọt ngào
Yêu nhau xa cách càng yêu
Dẫu rằng suông nhạt mà nhiều chứa chan
Non xanh khuất nẻo ngư nhàn
Tạ lòng xin mượn Thế Gian đưa trình”.

(Nguyễn Khắc Hiếu bái phục).

Đỗ tang nữ là ai ?

Mãi 5 năm sau, bức màn bí mật mới được hé lộ một phần: nàng chính là nữ sĩ Song Khê, tên thật Đỗ Thị Khê, sinh năm 1901, nguyên quán tại Cấm Khê (Khoái Châu, Hưng Yên) nhưng sinh ra và lớn lên tại Thất Khê (Cao Bằng) vì thế mới có bút danh là Song Khê. Nàng là em ruột của nữ sĩ Tương Phố (tác giả Giọt lệ thu). Sau này, bà Song Khê sống ở Sài Gòn, rồi định cư ở Virginia (Mỹ) và mất năm 1993, hưởng thọ 93 tuổi.

Phỏng theo: https://thanhnien.vn/van-hoa/giai-thoai-rau-sang-chua-huong-325890.html4_NYXLhoangthanhtam_c491b20150224091122-dac-san-chua-huong-mua-tray-hoi-xuan-traveltimes-1downloadIMG_1873images

Posted in Thơ | Leave a comment