MẶT TRỜI TÂM THỨC

Advertisements
Posted in Video OSHO | Leave a comment

THƠ THIỀN LÝ TRẦN 

THƠ THIỀN LÝ TRẦN
Trích Cổ thi Tác dịch
_______________________
Ngô Chân Lưu
Tác giả: tức Khuông Việt (933-1011), người Cát Lợi, huyện Thường Lạc, nay là Tĩnh Gia, Thanh Hóa, lúc nhỏ học đạo, lớn lên đi tu. Do nổi tiếng tinh thông Thiền học nên được Đinh Tiên Hoàng ban cho hiệu là Khuông Việt đại sư.

TRONG GO CO LUA
Trong gỗ luôn có lửa,
Vẫn thế bao đời nay.
Nếu gỗ không có lửa,
Sao cháy được thế này?

Lý Ngọc Kiều
Tác giả: sinh 1041, mất 1113, người hương Phù Đổng, huyện Tiên Du, là con gái đầu của Phụng Càn vương, được vua Lý Thánh Tông nuôi dạy trong cung. Cuối đời di tu, pháp danh là Ni sư Diệu nhân. Bà và ỷ Lan phu nhân là hai nữ sĩ nổi tiếng đời Lý. Ngoài bài thơ này còn lưu được một bài kệ nói về bốn nỗi khổ của kiếp người.

Sinh lão bệnh tử(1)
Sinh lão và bệnh tử,
Vốn là điều tự nhiên.
Càng muốn thoát cho khỏi,
Càng bị trói chặt thêm.
Ngu muội mới cầu Phật,
Dại dột muốn mong Thiền.
Chẳng cần Thiền, cần Phật,
Hãy tĩnh tâm ngồi yên.

Vạn Trì Bát
Tác giả: Sinh 1049, mất 1117, không rõ tên thật là gì, người ở đất Lụy Châu nay thuộc vùng Hà Bắc. Đi tu từ lúc 20 tuổi. Cuối đời ông trụ trì ở chùa Tổ Phong, núi Thạch Thất và mở trường dạy học ở đấy.

Có sinh ắt có tử
Có sinh, ắt có tử.
Có tử là có sinh.
Sống chết trời định sẵn,
Sướng khổ đều do mình.
Sự đời luôn thay đổi,
Buồn vui – bóng với hình.
Ai không lo sống chết,
Mới là người thông minh.

Dương Không Lộ
Tác giả: Không rõ năm sinh, chỉ biết mất 1119, người hương Hải Thanh, nay thuộc tỉnh Hà Nam, tổ tiên vốn làm nghề chài lưới, sau ông bỏ đi tu. Ông chuyên nghiên cứu về Thiền Tông và Mật Tông, cùng Thiền sư Giác Hải thường du ngoạn những nơi danh lam thắng cảnh.

Cái nhàn của dân chài
Sông xanh muôn dặm, trời muôn dặm.
Một xóm dâu gai, một xóm mây.
Ông chài ngủ quên, trưa tỉnh dậy,
Tuyết phủ trên ghe một lớp dày.

Kiều Trí Huyền
Tác giả: Không rõ năm sinh, năm mất, chỉ biết sống cùng thời và là bạn của Từ Đạo Hạnh. Bản thân ông cũng là một thiền sư.

Trả lời Từ Đạo Hạnh khi được hỏi về chân tâm
Cái thiền, cái đẹp, cả lời ca,
Đều từ tay mắt Phật mà ra.
Cả vũ trụ này đâu cũng Phật.
Sao lầm, cứ tưởng Phật đâu xa?

Từ Lộ
Tác giả: tức Từ Đạo Hạnh, không rõ nơi, năm sinh, mất 1117. Ông là nhà sư thế hệ thứ 12 dòng thiền Nam Phương, tu ở chùa Thiên Phúc trên núi Phật Tích, châu Quốc Oai, nay là huyện Quốc Oai, Hà Tây.

Có và không
Có, từ hạt bụi nhỏ.
Không, cái gì cũng không.
Như hình trăng dưới nước,
Có, mà thực tình không.
Lời nhắn nhủ học trò trước khi chết
Thu về không báo nhạn cùng bay.
Cớ sao quyến luyến cõi đời này?
Môn đệ đừng buồn ta sắp mất:
Thầy xưa chết để hóa thầy nay.

Kiều Phù
Tác giả: tức Bảo Giám, không rõ năm sinh, mất 1173, người huyện Trung Thụy, đời Lý Anh Tông, làm quan đến chức Hậu xá nhân, năm 30 tuổi từ quan, đến tu ở chùa Bảo Phúc, nay thuộc tỉnh Hòa Bình, sau ông trụ trì chùa này.

Cảm hoài
Trí tuệ như trăng sáng giữa trời,
Bao trùm thiên hạ, chiếu muôn nơi.
Muốn tìm được nó, đừng phân biệt
Cả rừng phong hoặc lá phong rơi.

Khuyết Danh

Ngẫm sự đời
Gió lùa, trăng lạnh, nước mênh mông,
Áo ấm đêm khuya vẫn buốt lòng.
Thời gian thấm thoắt trôi, già lão,
Mà việc không thành, ai biết không?

Trần Cảnh
Tác giả: tức Trần Thái Tông (1218-1277), con thứ của Trần Thừa; là ông vua đầu tiên của nhà Trần, có công trong việc ổn định và đưa xã hội Việt Nam bước dần vào giai đoạn thịnh vượng; trực tiếp lãnh đạo và chiến thắng quân Nguyên lần thứ nhất. Ông đặt nền móng cho chế độ thi cử và mở mang việc học ở Việt Nam.

Gửi nhà sư Đức Sơn ở am Thanh Phong
Gió thổi trăng khuya rụng trước thềm.
Cảnh vật, lòng người đều tĩnh êm.
Bao nhiêu cái thú không ai biết,
Cứ để sư nằm, vui suốt đêm.

Văn răn ham sắc
Da phấn, tóc thơm với má đào,
Khi nhìn, ai cũng thấy nao nao.
Thực chất chỉ toàn xương với thịt,
Giết người đau đớn chẳng cần dao.

Kiếp người(1)
Kiếp người – bọt sóng biển mênh mông.
Sống chết tại thiên, chớ bận lòng.
Nắng đẹp bình minh, chiều xạm tối.
Mùa xuân lá mọc, héo mùa đông.
Lã Vọng, Phan Lang đều chết cả.(2)
Thiên nhiên vận vật cứ xoay vòng.
Kiếp đời đã vậy, đừng than vãn.
Về tây nắng ngả, nước về đông.

Về bệnh tật(1)
Âm dương, tội đức cứ xoay vần.
Bể đời vì thế lắm gian truân.
Nhưng đã có thân thì có bệnh.
Bằng không có bệnh, ắt không thân.
Thuốc quý trường sinh không thể có.
Chẳng gì níu giữ tuổi thanh xuân.
Cái chính – tu thân, xa quỷ dữ,
Hàng ngày tâm niệm hướng thiên chân.(2)

Đêm mưa bão(3)
Bỗng trời nổi gió, bụi tung bay.
Ông chài say tít, mặc thuyền xoay.
Một dãy núi đồi vang tiếng sấm.
Chân trời bốn phía mịt mù mây.
Sầm sập mưa rơi như thác đổ.
Thi nhau ánh chớp xé đêm dày.
Bất chợt bão tan, trời lại tạnh.
Trăng sáng ngoài thềm – canh mấy đây?

Bài kệ khuyên mọi người lúc hoàng hôn
Hoàng hôn, mặt trời lặn
Sau dãy núi xa xa.
Thời gian trôi, khó giữ.
Người trẻ rồi cũng già.
Ai cưỡng được cái chết
Không cho đến tìm ta?
Vậy hãy lo tâm niệm,
Để xa lánh ma tà.

Kệ về lẽ vô thường(1)

(Bài một)
Sáng dậy, mặt trời mọc phía đông.
Lát sau đã thấy đứng trên không.
Mà người như thể đang mê ngủ,
Chẳng hay vạn vật vẫn xoay vòng.
Hoa nở rồi tàn, hoa lại nở.
Sự đời suy thịnh, có mà không.
Sao chẳng tĩnh tâm ngồi suy nghĩ,
Tự mình gây khổ, cứ long đong?
Kệ về lẽ vô thường

(Bài hai)
Nắng tắt, hết ngày lại đến đêm.
Đã tối, đường đời càng tối thêm.
Nhà mình đèn có mà không thắp,
Lại nhờ ánh sáng của nhà bên.
Sau núi mặt trời chưa kịp lặn.
Bên hồ trăng sáng đã nhô lên.
Sống chết luân hoàn, đời đã vậy,
Sao không niệm Phật, sớm quy thiền?

Kệ về lẽ vô thường
(Bài ba)
Trống canh giục khách tỉnh giấc nồng.
Chuông Phật nhắc người luyện đức công.
Mà người vẫn ngủ, quay về Bắc,
Mặc kệ mặt trời mọc phía Đông.
Dằng dặc đêm dài rồi cũng hết.
Đêm đời tăm tối, dốt thì không.
Nếu không nhanh chóng lo hành đạo,
Ngày nào mới gặp được Hoàng Công?(1)

Trần Tung
Tác giả: tức Tuệ Trung Thượng Sĩ (1230-1291), con trai Trần Liễu, anh ruột Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, trực tiếp cầm quân chống quân Nguyên. Ông tu Phật mà không hề xuất gia, từng theo học thiền sư Tiêu Dao. Ông rất ham mê văn thơ, các sáng tác được tập hợp trong bộ “Thượng Sĩ Ngữ lục”.

Thăm đại sư Tăng Điền
Cũng thế rừng xanh với gác lầu.
Để sống, chỗ nào chẳng giống nhau.
Người đời thấy núi cao và đẹp,
Mấy người nghe tiếng vượn khe sâu?

Gợi bảo mọi người
Thế gian ưa dối, không ưa thật.
Nhưng thật dối gì, đều bụi đất.
Muốn sang tới được bờ bên kia,(1)
Hãy hỏi trẻ con chơi trước mặt.

Chợt hứng làm thơ
Thanh thản ngồi yên chính giữa nhà,
Nhìn Côn Luân khói gợn xa xa.
Lúc mệt, thảnh thơi, tâm tự tắt,
Không thiền, không Phật, chỉ mình ta.

Cái tâm
Cái tâm không tướng, chẳng hình hài.
Thấy nó mắt thường dễ mấy ai?
Muốn biết cái tâm cho thật rõ,
Từ chiều cứ ngủ đến canh hai.

Gợi bảo những người tu Tây Phương(1)
Phật ở trong lòng mỗi chúng ta.
Bốn phương thân pháp(2) chỉ bao la.
Trong veo bể Phật, đêm thu lắng.
Trời đêm đơn độc mảnh trăng tà.

Vui thú giang hồ
Con thuyền nho nhỏ lướt trên sông.
Ghếch lái, buông chèo chỗ uốn cong.
Chợt nghe tiếng nhạn kêu đâu đó.
Gió thu như đã thổi qua lòng.

Thời tiết yên định
Tử sinh đừng hỏi, kẻo phí lời.
Thời tiết “nhân duyên” vốn tại trời.
Mây núi nào không bay cạnh núi,
Sóng nào chẳng ở chốn xa khơi.
Hoa nở tháng Ba, luôn vẫn vậy.
Gà gáy canh năm đánh thức người.
Cái đạo, cái tâm ai thấu hiểu,
Mới biết phù du sống ở đời.

Họa thơ huyện lệnh
Chẳng kém Tứ Minh(1) về cái ngông,
Không cầu trời phật thưởng, khen công.
Giác ngộ nhiều khi chưa mà đã,
Sự đời lắm lúc có mà không.
Tiểu nhân tìm thuốc mong bất tử,
Người giỏi ung dung chẳng bận lòng.
Đi câu mà chẳng mang câu, lưới,
Thậm chí chẳng thèm ngó xuống sông.

Cái thú giang hồ
Vui thú giang hồ, cảnh núi sông
Từ lâu ấp ủ mãi trong lòng.
Bạc vàng, danh vọng không vương vấn.
Tháng ngày nhàn nhã, sống thong dong.
Buổi chiều thổi sáo, chờ trăng mọc.
Sáng cắm thuyền câu chính giữa dòng.
Tạ Tam(1) thật tiếc không còn nữa,
Còn lại chiếc thuyền ghếch bãi nông.

Trình thiền sư Tiêu Dao ở Phúc Đường(2)
Lâu nay xa phong thái, kiều ngụ ở thôn hoang. Sâm thương thân cách phương trời, loạn phương ý hằng chung bóng. Khúc hát “vô sinh”, thảnh thơi cất tiếng. Công ơn pháp nhũ, gọi chút đền bù.tạm viết đôi lời, dưới tòa trình tiến.
Ở nơi thôn dã sống qua ngày,
Nhưng ơn Tứ Trọng(2) vẫn sâu dày.
Nhờ được gặp luôn, đầu đỡ tối/
Lòng dù đã nguội, vẫn lòng ngay.
Mùa xuân ngồi ngắm hoa đào nở.
Thu về, nhàn nhã ngắm mây bay.
Hôm nọ đến thăm, ngài chỉ giáo,
Bây giờ xin gảy đàn không dây.(3)

Khuyên đời vào đạo
Xuân hết đến hè, năm tháng qua.
Rất nhanh, người trẻ hoá thành già.
Sầu muộn luôn theo cùng tuổi tác.
Sang giàu rút cục chỉ phù hoa.
Bể “khổ” là đời, thường vẫn vậy,
Sông “yêu” mang lại lắm phiền hà.(1)
Cứ mãi buông mình theo dục vọng,
Có ngày tai hoạ đến tìm ta.

Chợt tỉnh
Giữa “không” và “có” chẳng bao xa.
Xưa nay sống chết – một thôi mà.
Hoa nở năm nay – hoa năm ngoái.
Trăng sáng bây giờ – trăng tối qua.
Thấm thoắt “ba sinh”(1) như gió thoảng.
Tuần hoàn “chín cõi”(2) kiếp phù hoa.
Vậy sống thế nào là tốt nhất?
Ma ha bát nhã, tát – bà – ha?(3)

Lui về ở ẩn
Ở đời, phúc họa đến song song.
Nơi này thanh tịch sống thong dong.
Sáng ngắm chim bay trên sóng biển.
Chiều xem mây khói phủ kín đồng.
Thẹn đời điên loạn, thân nhơ bẩn.
Mừng nước chưa suy, sạch tấm lòng.
Đêm đêm mơ thấy quan âm Phật.
Sóng thu vừa cạn lại vừa trong.

Posted in Thơ | Leave a comment

Thơ Trần Mạnh Hảo: HỠI MƯA PHÙN QUÊ MẸ BẠC ĐẦU CON

HỠI MƯA PHÙN QUÊ MẸ BẠC ĐẦU CON

Hỡi mưa phùn quê mẹ bạc đầu con
Nhớ mùi ổ rơm thơm lừng gió bấc
Mẹ đang nằm ngoài trời xin cỏ đắp
Đêm cơ hàn ngọn nến thắp mùa đông

Xưa mẹ theo gió bấc lấy chồng
Mẹ khoác cả mưa phùn làm áo cưới
Khóc lạy ông bà về làm dâu xóm dưới
Chỉ cây bàng thương mẹ cháy bừng mưa

Con chào đời đêm súng thét tản cư
Tã lót mẹ cuốn con bằng khói bếp
Gió bấc khóc chiến tranh gào cái chết
Đêm ấy mưa phùn nuốt hết quê hương

Con đã ăn bầu vú mẹ canh trường
Ngày đói khát mẹ ru bằng nước mắt
Mẹ gánh con chạy vòng quanh đất nước
Đất nước là chăn đụp mẹ trùm con

Ào ạt mưa phùn trứng rận ngập đầu non
Con đã biết bắt rận thuê kiếm gạo
Mẹ lặng khóc khi cầm lên bát cháo
Gió bấc nào vô đạo bắt tù cha

Mưa phùn ơi mưa phùn thổi bay nhà
Mưa phùn đẩy mẹ xuống sông mò rét
Gió bấc hú con nằm mơ mẹ chết
Chạy vào đêm gào thảm thiết: Mẹ ơi!

Mẹ ngoài sông mò cá cóng chân trời
Trời biết ý phủ trùm đêm chăn đụp
Mẹ dạy con đừng căm thù tủi nhục
Lửa còn trong củi mục, mẹ còn đâu?

Giáo mác lưỡi lê trận gió bấc bay đầu
Quê đất Bắc mẹ con mình chết rét
Đêm nay con lại được sinh ra, hồn khóc thét:
– Hỡi mưa phùn quê mẹ bạc đầu con!

Sài Gòn tối 29-12-2014

Posted in Thơ | Leave a comment

SỰ DUNG THÔNG CỦA HAI LOẠI SỰ THẬT: BẢN MÔN VÀ TÍCH MÔN

SỰ DUNG THÔNG CỦA HAI LOẠI SỰ THẬT: BẢN MÔN VÀ TÍCH MÔN
(SỰ THẬT TUYỆT ĐỐI VÀ SỰ THẬT ƯỚC LỆ)

Posted in THÍCH NHẤT HẠNH | Leave a comment

THƠ TẢN ĐÀ- NGUYỄN KHẮC HIẾU

GIAI THOẠI “RAU SẮNG CHÙA HƯƠNG”

Muốn ăn rau sắng chùa Hương…

Rau sắng là một trong những đặc sản, một loại lá cây rừng nấu canh ngon ngọt như rau ngót của vùng Hương Sơn – nơi nổi tiếng với lễ hội chùa Hương thường được tổ chức vào mùa xuân mỗi năm.

Thi sĩ Tản Đà có lẽ mùa xuân nào cũng đi hội chùa Hương, và đâm “ghiền” cái món canh rau sắng. Nhưng rủi thay, đến mùa xuân năm 1923 thì chàng… hết tiền! Ngồi bó gối nhìn người ta nô nức đi trẩy hội mà lòng cuộn lên những xuyến xao bồi hồi… Thế là trút tâm sự qua đầu ngọn bút:

“Muốn ăn rau sắng chùa Hương
Tiền đò ngại tốn, con đường ngại xa
Mình đi, ta ở lại nhà
Cái dưa thì khú, cái cà thì thâm”.

Tản Đà đăng 4 câu thơ trên lên tờ Hữu Thanh do chính ông làm chủ bút.

Ít ngày sau, Tản Đà nhận được một gói bưu phẩm bên trong là một mớ rau sắng và một mảnh giấy ghi 4 câu thơ:

Kính dâng rau sắng chùa Hương
Tiền đò đỡ tốn, con đường đỡ xa
Không đi, xin gửi lại nhà
Thay cho dưa khú cùng là cà thâm”.

 Phía dưới ghi “Đỗ tang nữ bái tặng”.(“Đỗ tang nữ” có nghĩa là người con gái hái dâu họ Đỗ).

Cảm động và ngập tràn hạnh phúc, ngay sau đó Tản Đà viết và đăng trong tờ Truyện Thế Gian  bài thơ sau:

“Mấy lời cảm tạ tri âm
Đồng bang là nghĩa, đồng tâm là tình
Đường xa rau vẫn còn xanh
Tấm lòng thơm thảo, bát canh ngọt ngào
Yêu nhau xa cách càng yêu
Dẫu rằng suông nhạt mà nhiều chứa chan
Non xanh khuất nẻo ngư nhàn
Tạ lòng xin mượn Thế Gian đưa trình”.

(Nguyễn Khắc Hiếu bái phục).

Đỗ tang nữ là ai ?

Mãi 5 năm sau, bức màn bí mật mới được hé lộ một phần: nàng chính là nữ sĩ Song Khê, tên thật Đỗ Thị Khê, sinh năm 1901, nguyên quán tại Cấm Khê (Khoái Châu, Hưng Yên) nhưng sinh ra và lớn lên tại Thất Khê (Cao Bằng) vì thế mới có bút danh là Song Khê. Nàng là em ruột của nữ sĩ Tương Phố (tác giả Giọt lệ thu). Sau này, bà Song Khê sống ở Sài Gòn, rồi định cư ở Virginia (Mỹ) và mất năm 1993, hưởng thọ 93 tuổi.

Phỏng theo: https://thanhnien.vn/van-hoa/giai-thoai-rau-sang-chua-huong-325890.html4_NYXLhoangthanhtam_c491b20150224091122-dac-san-chua-huong-mua-tray-hoi-xuan-traveltimes-1downloadIMG_1873images

Posted in Thơ | Leave a comment

BIẾN CHUYỂN MẬT TÔNG

BIẾN CHUYỂN MẬT TÔNG

Posted in Video OSHO | Leave a comment

BẤT NHỊ, VÔ TÁC, VÔ HÀNH

Posted in THÍCH NHẤT HẠNH | Leave a comment